máy lọc nước ion canxi geyser ecotar6
banner geyser ecotar 8
banner ecotar 2
banner chính web Geyser ecotar 2
tặng chảo sunhouse geyser ecotar
ctkm geyser

Trang chủ » Vai trò nước uống và bệnh tim mạch

Vai trò nước uống và bệnh tim mạch

Lịch sử của nước và bệnh tim

Trong những năm qua nhiều nghiên cứu đã công bố các mối quan hệ giữa nước uống và tử vong do bệnh tim mạch. Hai yếu tố mang lại lợi ích đã liên tục được đưa ra – độ cứng và tổng chất rắn hòa tan. Cả hai yếu tố có tác dụng giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch. Độ cứng là lượng canxi (Ca) và magiê (Mg), hay canxi cacbonat trong nước. Càng nhiều Ca, Mg, hay canxi cacbonat, nước có độ cứng càng cao.

Nghiên cứu quan trọng đầu tiên về sự liên quan giữa nước uống và bệnh tim được thực hiện năm 1960 do Schroeder. Trong bài báo của tác giả, “Mối quan hệ giữa tử vong do bệnh tim mạch và cung cấp nước”, nước sạch ở 163 thành phố lớn nhất ở Hoa Kỳ được phân tích 21 thành phần và khảo sát mối tương quan với bệnh tim. ông kết luận “Một số thông số có mặt trong nước có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao do bệnh thoái hóa tim mạch”.

Năm 1979 sau khi xem xét 50 nghiên cứu, Comstock kết luận, “Có thể có dấu hiệu về sự tương quan giữa độ cứng của nước với tỷ lệ tử vong tim mạch. Nhiều nghiên cứu đã công bố số liệu thống kê để giải thích”. Một nhà nghiên cứu cho rằng lý do của sự tương quan này là “thiếu một nguyên tố cần thiết hoặc một độc chất có nồng độ cao”. Cũng có thể bao gồm sự kết hợp của cả hai yếu tố này.
Ngày nay, sau ba mươi năm nghiên cứu, chúng tôi kết luận trái với kết luận ban đầu của Schroeder uống nước cứng sẽ làm giảm bệnh tim mạch hơn so với uống nước mềm.

Trong những năm qua đã có nhiều báo cáo được công bố phân tích các nguyên tố cụ thể trong nước uống và khả năng liên quan với bệnh tim. Một nghiên đánh giá kẽm, nghiên cứu khác về đồng, selen, … . Và khi bạn đọc tài liệu này, bạn thấy một hình ảnh không phù hợp và khó hiểu. Nhưng, nếu bạn nhìn vào bức tranh rộng hơn, vào các nghiên cứu về độ cứng, bạn sẽ thấy kết quả rất phù hợp: nước càng cứng, khả năng bị tử vong vì bệnh tim càng ít.

Trong hầu hết các trường hợp, nước càng cứng hàm lượng Ca và Mg trong nước càng nhiều. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy Mg có thể quan trọng hơn.
Giáo sư Ragnar Rylader lưu ý rằng các nghiên cứu ở Thụy Sĩ, Đức và Thụy Điển cho thấy khi Mg trong nước uống vượt quá 10-15 mg / L, tỷ lệ chết giảm so với các cộng đồng lân cận có hàm lượng Mg trong nước nhỏ hơn. Một số nghiên cứu khuyến cáo hàm lượng Mg 20 mg/L là lý tưởng. Tuy nhiên, có những nghiên cứu cho rằng 6-8 mg / L rất có lợi, trong khi đó một số nhà sản xuất nước đóng chai đưa ra số liệu rất cao là 90 mg/L. Tại thời điểm này tôi không tin rằng Mg là tất cả “viên đạn bạc” mà một số ý kiến đã đưa ra. Nhưng tôi tin rằng Mg rất quan trọng. Biết mức Ca và Mg trong nước uống là đáng giá. Kiểm tra cả độ cứng và lượng cụ thể của Ca và Mg.

Trước khi tóm tắt một số nghiên cứu chính, chúng ta hãy thảo luận tổng chất rắn hòa tan (TDS). TDS là nồng độ tất cả các khoáng chất trong nước uống. TDS không chỉ bao gồm canxi và magiê (các yếu tố độ cứng), mà còn kẽm, đồng, crom, selen … Tác giả Sauer đã phân tích 23 đặc trưng nước uống trong 92 thành phố (“Mối quan hệ của nước đến Rủi ro tử vong”) và nhận thấy, những người uống nước có TDS cao hơn có tỷ lệ tử vong thấp hơn do bệnh tim, ung thư, và bệnh mãn tính so với những người uống nước có TDS thấp.

Thông thường, nước cứng có TDS cao. Mặc dù hầu hết các nghiên cứu về bệnh tim đã không kiểm tra TDS mà chỉ kiểm tra độ cứng. Yếu tố TSD có mặt và có thể đóng vai trò rất quan trọng.

Chúng ta càng cố gắng cô lập và nghiên cứu tác động của từng khoáng chất chúng ta càng có thể đánh mất sự thống nhất, toàn diện, các yếu tố có lợi trong nước như độ cứng, TDS, và pH. Có thể một trong những lý do chính của sự không thống nhất trong câu chuyện nước chỉ đơn giản là vì chúng ta đang bị định hướng để xác định một nguyên tố độc lập cụ thể tạo ra những lợi ích về sức khỏe của nước uống.

Hãy xem xét một số các nghiên cứu chính. Ở Anh, British Regional Heat Study đã phân tích 253 thị trấn từ năm 1969 đến 1973. Họ nhận thấy tử vong do tim mạch nhiều hơn khi uống nước mềm nhiều hơn 10% đến 15% so với nước cứng. Họ khuyến cáo lượng lý tưởng của độ cứng là khoảng 170 mg/L (hay ppm – một phần triệu).

Tại Hoa Kỳ, Greathouse và Osborne nghiên cứu 4200 người lớn, lứa tuổi 25-74 tại 35 khu vực địa lý khác nhau. Họ phát hiện tỷ lệ tử vong do bệnh tim trong vùng nước cứng thấp hơn các vùng nước mềm. Một báo cáo của phòng thí nghiệm quốc giá Oak Ridge phát hiện ra rằng canxi và magiê trong nước cứng làm giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ. Nghiên cứu này so sánh các hồ sơ y tế của 1.400 nông dân nam ở Wisconsin uống nước giếng từ trang trại của mình. Những người nông dân uống nước mềm bị bệnh tim, trong khi nông dân uống nước cứng không gặp phải vấn đề này.

Đôi khi, các nghiên cứu tốt nhất là những vấn đề tự nhiên diễn ra trong nhiều năm. Một số nghiên cứu nổi bật tại hai thị trấn lân cận, trong đó có một thị trấn làm thay đổi nước cứng thành nước mềm. Kết quả của điều này là gì? tỷ lệ chết vì bệnh tim cao. Chúng tôi thấy điều này ở các thị trấn nước Anh là Scunthrope và Grimsby. Cả hai thị trấn có nước với độ cứng 444 mg / L có tỷ lệ tử vong bệnh tim giống hệt nhau. Scunthrope làm mềm nước của họ đến 100 mg/L và trong vòng vài năm tăng trường hợp tử vong tim mạch lên đáng kể. Trong khi đó ở Grimsby tỷ lệ này là hầu như không đổi. Vấn đề này cũng đã được báo cáo tại các thị trấn của Italia là Crevalcore và Montegiorgio và vùng Abruzzo.
Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia kết luận, “Điều kiện tối ưu của nước uống có thể làm giảm tử vong do tim mạch lên 15% ở Mỹ “. Khi nhìn vào các nghiên cứu, có hai vấn đề nổi bật. Trước tiên là một mối quan hệ xác định, một sự lien quan rõ ràng giữa độ cứng của nước và tỷ lệ tử vong bệnh tim.

Chúng ta nên cố gắng uống nước có độ cứng khoảng 170 mg / L, hàm lượng được thấy lý tưởng trong Vương quốc Anh. Thứ hai, có một mối quan hệ nhất định giữa TDS và bệnh tim. TDS cao sẽ giảm bệnh tim. Mức độ thích hợp của độ cứng và TDS là hai trong số các đặc tính có lợi trong thành phần nước uống.

Dịch từ Healthy Water của tiến sĩ Martin Fox